|
|

Quyển 4 - Chương 110: Động (hạ)


Ngày hôm đó Ôn Uyển mặc một áo lụa có viền lông chồn tía, thêu hoa bằng chỉ vàng dài tới đầu gối, sắc vàng óng ánh, phối với một chiếc váy lông chồn màu tía, ở bên ngoài còn khoác một áo choàng bằng lông chồn màu trắng bạc, lối ăn mặc này khiến nàng trông rất có tinh thần. Tóc nàng được vấn theo kiểu song loa, trên búi tóc cắm một cây Phượng trâm cửu vĩ, cổ đeo một chuỗi ngọc thượng hạng còn tay mang vòng tay long phượng, tuy đồ trang sức chỉ có ba vật, nhưng mỗi vật đều hiển lộ phú quý vô cùng.

Hoàng đế nhìn cách Ôn Uyển ăn mặc trang điểm, thì cực kỳ vui mừng nói: ” Đúng rồi, ăn mặc như thế này nhìn mới tốt, sau này cháu cứ ăn mặc theo cách này, nhìn rất có tinh thần.”

Hạ Dao cúi đầu, trong lòng cười thầm. Hôm nay không biết Quận chúa bị trúng gió gì mà đột nhiên nói muốn phục trang trở thành đứa trẻ phú quý nhà Hoàng gia, thỉnh thoảng bị trúng gió mà thay đổi thì còn có thể, chứ muốn cho Quận chúa ngày ngày đều thế có vẻ khó khăn.

Ôn công công bưng chén trà nóng cho Ôn Uyển. Ôn Uyển nhận lấy, cầm trên tay ấp ấp cho tay ấm lên, nàng ở trong điện Dưỡng Hòa phụng bồi hoàng đế cho đến khi dùng xong bữa ăn trưa mới đi ra ngoài.

Từ trong Dưỡng Hòa điện đi ra, Hạ Dao nhìn phương hướng Ôn Uyển đi không phải là đường về Vĩnh Ninh Cung liền hỏi: “Quận chúa, người đi đâu vậy?”

Ôn Uyển không nói chuyện, Hạ Dao vội đi sát theo, Ôn Uyển đi tới hồ Thủy Cầm, nơi ngày trước bị Tư Nguyệt đẩy xuống, cái hồ trong Ngự hoa viên này diện tích rất rộng, hôm nay là giữa trời đông giá rét nên mặt hồ đã kết một tầng băng thật dầy.

Ôn Uyển dùng chân dẫm lên muốn thử một chút độ dày của mặt băng phía trên. Dẫm một lần không có phản ứng, Ôn Uyển muốn dùng lực dẫm xuống nữa thì bị Hạ Dao đứng bên cạnh lôi phắt lên bờ, đứng rất xa cái hồ. Hạ Ảnh nhìn mà hâm mộ, Hạ Dao thật lợi hại a.

Hạ Dao giận dữ nói: “Quận chúa, có phải người ngại nô tỳ rảnh rỗi quá hay không?”

Ôn Uyển ha hả cười không ngừng, bảo Hạ Ảnh đưa lò sưởi nhỏ bằng kim loại có phủ lớp sứ nhũ lấp lánh đang cầm trong tay cho mình. Ôn Uyển ôm vào trong ngực, bàn tay thoáng một chút liền ấm áp trở lại: “Ngươi nói xem có thể vận dụng sức lực của mọi người tạo ra một sân băng hay không? Để khi không có chuyện gì làm ta đi trượt băng chơi, hoàng cung thật quá nhàm chán.”

Hạ Dao muốn nói, người thật có thể nhàn hạ thoải mái trượt băng sao? Nhưng nhìn bộ dáng Ôn Uyển hăng hái bừng bừng, không muốn đả kích sự tích cực của nàng: “Cũng không phải là không thể, nhưng hao phí rất lớn.”

Ôn Uyển nghe thấy trên mặt vẫn treo nụ cười nhàn nhạt, cũng không lộ ra vẻ mặt thất vọng. Hạ Dao đang nghi ngờ, chỉ thấy Ôn Uyển hỏi: “Tư Nguyệt Quận chúa hiện nay như thế nào rồi?”

Hạ Dao không biết Ôn Uyển trong hồ lô muốn làm cái gì:”Vẫn đang bị giam, nói là ở nhà dưỡng bệnh.”

Ôn Uyển lặng yên nhìn mặt hồ, môi rung rung (lầm bầm lầu bầu): “Lần trước, là từ nơi này bắt đầu, lần này cũng bắt đầu từ nơi này đi!” Xoay đầu lại hỏi: “Chuyện tiến hành thế nào rồi?”

Hạ Dao đối với việc Ôn Uyển thay đổi chủ đề quá nhanh thì hơi khựng lại, ba giây sau mới trả lời: “Quận chúa, chuẩn bị không sai biệt lắm. Quận chúa, nếu cần thì chuỵện lần này cũng cứ giao cho ta đi!”

Ôn Uyển phủ hai bàn tay ở lò sưởi nhỏ, khẽ chà chà lên mặt sứ bóng loáng trả lời: “Không cần, lần này ta sẽ tự mình làm.” Trải qua nhiều chuyện như vậy, nếu lại lui về phía sau giao cho người khác làm việc thì chỉ có thể hiển lộ mình hèn yếu vô năng. Hạ Dao không có nói sai, nếu muốn có lực lượng của riêng mình, vậy phải để cho những người đó xem một chút, nàng có phải người đáng giá để đi theo hay không.

Trên triều, nơi khiến quan viên sợ hãi là Thiên lao, còn trong hậu cung, nơi cung nữ thái giám sợ hãi là Bạo thất. Ở nơi này có đủ các loại hình cụ tra tấn, không mấy người đã vào Bạo thất mà còn có thể đi ra, có ra được cũng thành phế nhân. Có thể nói Bạo thất là cơn ác mộng với các cung nữ thái giám trong cung.

Hạ Dao biết Ôn Uyển muốn đi Bạo thất thì ngăn cản: “Quận chúa, nơi đó không sạch sẽ, người không thể đi.” Nơi đó đã có không biết bao nhiêu người chết, trong đó không thiếu kẻ chết oan. Quận chúa lại là người có thể chất đặc thù, vạn nhất bị lây dính không thứ không sạch sẽ, thì ai có thể gánh chịu tội lỗi này.

Ôn Uyển khoát khoát tay: “Không sao.”

Hạ Dao cố gắng phản đối, Ôn Uyển cười nói: “Ta cũng không đi nhìn quá trình thi hành hình phạt, ta chỉ là muốn trông thấy những kẻ muốn hại ta.”

Vừa vào Bạo Thất, một trận âm phong (gió âm, lạnh lẽo nơi có nhiều người chết) thổi qua khiến Ôn Uyển không tự chủ được lạnh run. Cao công công là người chịu trách nhiệm sự kiện lần này, nghe có người báo Quận chúa tới, nên vội vàng đi ra ngoài đón. Lão vừa nhìn thấy Ôn Uyển, hồn cũng bị dọa chạy mất một nửa (hết hồn): “Ôi Quận chúa, đây là chỗ người có thể tới sao? Nơi này âm u xui xẻo vô cùng, người nhanh trở về đi, có việc gì quận chúa chỉ cần truyền nô tài một tiếng là được.”

Ôn Uyển khoát tay áo: “Quận chúa nói, ngươi đi phía trước dẫn đường, nàng muốn vào Tĩnh thất, nhìn thấy qua những kẻ đã từng động chạm tới mấy chậu hoa.”

Gương mặt Cao công công như sắp khóc: “Quận chúa, người muốn gặp những kẻ này, chỉ cần nói một tiếng với lão nô, làm sao có thể chạy đến đây, người đây là muốn mạng của lão nô sao?”

Ôn Uyển tiếp tục kiên trì, Cao công công bất đắc dĩ, chỉ đành phải đưa nàng đến tĩnh thất.

Ôn Uyển ở trong tịnh phòng của Bạo thất, có thể nghe được tiếng kêu thê thảm từ xa vọng tới, nhưng chính nàng cũng không gặp tù phạm. Chẳng qua nàng chỉ ngồi trong tĩnh thất một hồi lâu rồi đi ra ngoài, cũng không có thẩm vấn bất kỳ phạm nhân nào. Dường như, lần này nàng đi tới Bạo thất chỉ là vì thấy ngột ngạt, nên muốn đổi gió một chút.

Lần đổi gió này của Ôn Uyển khiến Cao công công về sau mỗi ngày đều chủ động chạy tới Vĩnh Ninh Cung bảy tám lần.

Người dính líu càng tra tới thì càng nhiều, cuối cùng có cung nữ bị những người khác chỉ điểm đã khai ra Yên Chi và Hoa Quỳnh.

Cao công công cảm thấy thật khó khăn, hai người này là tâm phúc của Hiền phi và Đức phi, không có thánh chỉ lão cũng không dám tùy ý bắt bọn họ.

Ôn Uyển cười đi đến điện Dưỡng Hòa, nói chuyện này với hoàng đế. Hoàng đế nhìn Ôn Uyển một cái, không có hạ chỉ, chẳng qua là hỏi: “Ôn Uyển, tiếp theo cháu định xử trí như thế nào?”

Ôn Uyển lấy bút viết: “Ông ngoại hoàng đế , bắt hai người cung nữ này thì cũng nên ngừng thôi! Đã sắp hết năm, chúng ta cũng nên có một tất niên vui vẻ hòa thuận.” Ôn Uyển rất rõ ràng, nàng hiện tại còn không động đến được hai phi tử là Hiền Phi và Đức phi. Bởi vì bọn họ có nhi tử làm chỗ dựa, mà nàng thì không muốn để cậu Trịnh vương liên lụy vào chuyện này.

Hoàng đế vuốt đầu Ôn Uyển, ánh mắt rất phức tạp, nhưng cuối cùng nhẹ nhàng thở dài một hơi, hạ thánh chỉ.

Những thái giám đi bắt người, khi đến Hàm Phúc cũng cũng rất khách khí: “Nương nương, nô tài là phụng chỉ làm việc, kính xin nương nương thông cảm.”

Tay Hiền phi nắm chặt, móng tay dài đâm vào trong thịt thật sâu, đau đến bà không có cảm giác. Hoa Quỳnh đi theo bên người bà nhiều năm như vậy, bà đã coi nàng thành nữ nhi ruột thịt mà đối đãi, nhưng lần này lại bị Ôn Uyển tính toán kéo vào. Qua một thời gian thật dài, sắc mặt Hiền phi mới bình tĩnh trở lại nói: “Ngươi yên tâm, Bổn cung sẽ không làm khó cho ngươi. Các ngươi đi ra ngoài trước, Bổn cung muốn nói với Hoa Quỳnh mấy câu.”

Điểm mặt mũi này, thái giám truyền chỉ tất nhiên sẽ cho.

Trong lòng Quách ma ma rất khó chịu, Hoa Quỳnh là một cánh tay của nương nương, đã sống ở bên cạnh nương nương nhiều năm, đối với nương nương trung thành cảnh cảnh. Lúc trước bọn họ không hề nghe được một chút tiếng gió nào, khi biết tới chuyện này thì hoàng thượng đã hạ thánh chỉ tới. Người đã tới Bạo thất rồi còn có thể trở về sao? Lần đi này sẽ không trở về được nữa.

Chuyện này đã thành định cục, không có khả năng cứu vãn.

Hoa Quỳnh quỳ gối trước mặt Hiền phi, không khóc lóc hay cầu cứu: “Nương nương, Hoa Quỳnh chết không có gì đáng tiếc nhưng người nhất định phải nghiêm ngặt đề phòng Ôn Uyển Quận chúa. Nương nương, Hoa Quỳnh có thể ở bên cạnh hầu hạ nương nương nhiều năm như vậy, là phúc khí của Hoa Quỳnh. Hoa Quỳnh phải đi rồi, kính xin nương nương bảo trọng nhiều hơn.” Nói xong liền dập đầu lạy ba cái, cắn răng, xoay người đi ra ngoài.

Khi Hoa Quỳnh đi tới cửa Hiền phi mới nói: “Ngươi yên tâm, Bổn cung sẽ chiếu cố tốt cho người nhà của ngươi.” Hoa Quỳnh nghe lời này, bước chân hơi dừng một chút, rồi bước nhanh đi.

Sau khi Hoa Quỳnh đi rồi, Hiền phi không nói gì thật lâu.

Quách ma ma có chút lo lắng vội kêu một tiếng: “Nương nương.”

Hiền phi lộ ra một nụ cười khổ sở: “Ôn Uyển rất thông minh, ta chưa bao giờ coi thường sự thông minh của nó, nhưng lần này, ta lại đánh giá thấp người ở bên cạnh nó.”

Quách má má không hiểu hỏi: “Nương nương, Hạ Dao này có cái gì không thỏa đáng sao?”

Hiền phi nắm chặt phần vàng ròng bảo vệ móng trên tay, cắn răng nói: “Nếu như ta đoán không sai thì Hạ Dao hẳn là người của Thần Cơ Doanh, hơn nữa địa vị tuyệt đối không thấp. Lần này Ôn Uyển gây chiến, tất nhiên là nàng ta ở phía sau bày mưu tính kế.”

Thần Cơ Doanh là tổ chức bí mật năm đó Thái tổ hoàng đế thành lập. Chức trách của Thần Cơ Doanh chính là dò hỏi tin tức, thăm dò tình hình địch, giám sát đôn đốc đủ loại quan lại. Nghe nói người trong tổ chức không nhiều lắm, nhưng từng người đều là được ‘tinh khiêu tế tuyển’ (tuyển chọn một cách nghiêm ngặt khắc nghiệt) từ trong trăm vạn người, khi còn nhỏ đã bắt đầu bồi dưỡng, phải tốn hao số tiền khổng lồ để tài bồi ra. Căn cứ theo tin đồn, mỗi người đi ra từ Thần Cơ Doanh đều có mang tuyệt kỹ, văn võ song toàn. Hơn nữa những người trong Thần Cơ Doanh đều tuyệt đối trung thành với triều đình và hoàng thượng.

Thần Cơ Doanh còn có một đặc điểm, nó là do hoàng đế trực tiếp quản hạt, chỉ nghe hoàng đế ra lệnh, là tổ chức quyền lực nhất cũng thần bí nhất ở Đại Tề.

Nhiều năm như vậy Hiền phi cũng chỉ mới nghe nói về tổ chức này mà chưa hề gặp bất kỳ một người nào trong đó. Sự kiện hoa độc lần này, chỉ mới mấy ngày đã bị Hạ Dao phát hiện đầu mối, một thân bản lĩnh của Hạ Dao làm cho bà phải hoài nghi. Nếu như Hạ Dao thật sự là người đi ra từ Thần Cơ Doanh thì về sau bà muốn hạ thủ, không có trăm phần trăm nắm chắc, thì nhất định không thể manh động.

Quách ma ma hoảng sợ: “Nương nương, điều này sao có thể?”

Hiền phi cũng hy vọng mình đã đoán sai.

Ở cung Trường Xuân, sau khi Yên Chi bị mang đi, Đức Phi thật sự vừa kinh vừa sợ. Đầu mâu nhanh như vậy đã chỉ về hướng bà? Ôn Uyển nhìn như luôn luôn không tranh quyền thế, bình thường bất hiện sơn bất lộ thủy (không có dấu hiệu gì, không tỏ ra có bản lĩnh gì), thế nhưng vừa ra tay liền bắt thẳng cổ họng của bà, khiến bà không thở nổi.

Khi mọi người cho rằng chuyện này, sẽ còn dẫn dắt đến trên người Hiền phi và Đức Phi, hậu cung sẽ có một cuộc đại lay động thì Cao công công đối ngoại tuyên bố rằng Yên Chi và Hoa Quỳnh không chịu nổi hình phạt, đã chết, chuyện đến lúc này liền dừng lại.

Hiền phi sau khi biết cười lạnh không dứt: “Thật đúng là cao minh, nếu đã tra thì ai cũng nghĩ sẽ tra đến cùng nhưng hết lần này tới lần khác nàng chỉ tra một nửa còn nửa trung ương thì không tra xét.”

Quách má má hiểu chuyện này: “Nương nương, đây là Ôn Uyển Quận chúa muốn nói cho người khác biết, là nương nương và Đức Phi đối phó nàng, nhưng bởi vì nàng ngại hai người là trưởng bối, nên không muốn tra tiếp. Ở trong mắt người khác, nàng là cắn răng nuốt máu vào trong bụng.”

Hiền phi gật đầu: “Đúng, nàng làm như vậy, là cố ý muốn khiến hoàng thượng áy náy vì không thể che chở tốt cho nàng. Hoàng thượng áy náy so với việc tiếp tục tra xét quan trọng hơn nhiều. Còn nữa, ta đoán chính nàng cũng không nắm chắc có thể thật dính dáng đến ta! Nói đến người có thể nắm chắc tâm tư của người khác, không có ai so sánh được với Ôn Uyển, kể cả Tô Phượng năm đó cũng không lợi hại như thế.”

Quách má má thấy Hiền phi đánh giá Ôn Uyển cao như vậy, trong lòng lộp bộp một chút: “Nương nương, chuyện đã đến tình trạng này, chúng ta nên làm cái gì bây giờ?”

Hiền phi lắc đầu: “Tạm thời không thể động, cái kẻ ở cung Trường xuân kia so với chúng ta còn vội vàng hơn. Dựa vào ả mà cũng nghĩ có thể làm tăng mâu thuẫn của ta và Ôn Uyển, để ngồi giữa ngư ông thủ lợi sao? Ngu xuẩn.”

Vì thử dò xét thái độ của Ôn Uyển, Đức Phi tự mình đi qua thăm nàng.

“Quận chúa, Đức Phi nương nương tới thăm người.” Ôn Uyển đi ra ngoài đón, nghĩ chắc bà ta là tới thăm dò thật hư đây.

Đức Phi nhìn Ôn Uyển đang đi tới, hôm nay nàng mặc một thân cung trang bằng cẩm đoạn màu xanh, thêu hoa mẫu đơn Ngọc Cẩm, búi tóc chỉ cài một cây trâm phượng bằng vàng có khảm hạt châu, xinh đẹp động lòng người.

Ngoài dự đoán, Ôn Uyển lại hành lễ nhận lỗi với Đức Phi: “Quận chúa nói, lẽ ra nàng nên đi đến chỗ của Đức Phi nương nương để bồi tội, nhưng mấy ngày nay nhiều chuyện bận rộn, không thể chậm trễ, kính xin Đức Phi nương nương không nên trách tội Quận chúa.”

Đức Phi nghe lời này, liến cười rất miễn cưỡng: “Làm sao thế được, cũng là Yên Chi nha đầu kia gây chuyện, ta cũng không biết, không ngờ nàng ấy cả gan làm loạn như thế. Ôn Uyển, cháu đừng trách tội ta mới đúng.”

Ôn Uyển cười nhẹ nhàng lắc đầu: “Nương nương là trưởng bối, lời này của người khiến Quận chúa rất sợ hãi. Nương nương không trách tội là tốt rồi, Quận chúa cũng yên tâm.”

Hai người nói chuyện với nhau tương đối vui vẻ. Thái độ của Ôn Uyển đối với Đức Phi là khách khí có thừa mà không quá thân mật, cùng với lúc trước không có gì khác biệt.

Thái độ của Ôn Uyển như vậy, khiến cho trong lòng Đức Phi hoang mang, nắm không được mạch nên tạm thời lại không dám động.

Hành động lần này của Ôn Uyển khiến cho Trịnh vương cảnh giác cao độ. Trong nhận thức của Trịnh vương, Ôn Uyển dù đã tôi luyện thế nào, thì vẫn có một chút không đổi được chính là tâm từ thủ nhuyễn, nàng bị hoàn cảnh bắt buộc có thể sẽ đi giết người, nhưng sẽ không giết người vô tội. Lần này Ôn Uyển gây chiến, một nửa người trong hoàng cung bị liên lụy vào, còn hạ sát thủ với thiếp thân nha hoàn bên cạnh Đức Phi, điều này chứng minh Đức Phi có không thỏa đáng.

Trịnh vương phái người đi cẩn thận thăm dò. Quả nhiên từ dấu vết còn lại phát hiện ra trên mặt Hằng Vương luôn ra vẻ an phận làm một Phiên Vương, nhưng vẫn cùng Mao gia duy trì quan hệ mật thiết. Nhất cử nhất động trong kinh thành đều được truyền về đến đất phong của Hằng Vương bằng tốc độ nhanh nhất. Hằng Vương cũng có dã tâm bừng bừng, dò xét ngôi vị hoàng đế.

Nếu Ôn Uyển biết suy nghĩ của Trịnh vương, khẳng định trợn trắng mắt. Đều là nhi tử của ông ngoại hoàng đế thì sao có thể không nổi lên tâm tư với ngôi vị hoàng đế đây? Chỉ cần vị trí thái tử chưa định ra, cơ hội của mọi người đều giống nhau. Dĩ nhiên, điều kiện tiên quyết là hoàng đế nguyện ý cho ngươi cơ hội này. Hoàng đế vào năm Hằng Vương đầy mười sáu tuổi, đã ném hắn tới đất phong, căn bản chính là không muốn cho hắn cơ hội. Hằng Vương cũng không phải là cậu Trịnh vương, năng lực cũng chỉ bình thường, làm không được chính tích to lớn. Dĩ nhiên, hoàng đế đem hắn thả vào trên đất phong cũng là bảo vệ hắn.

Từ tháng tám đến đến tháng mười hai, hoàng đế được Ôn Uyển tỉ mỉ hầu hạ, nỗi khó chịu trong nội tâm cùng chứng bệnh đau nhức xương khớp giảm bớt rất nhiều. Khí sắc và tinh thần của ông cũng càng ngày càng tốt, tất nhiên tâm tình cũng khá, hoàng đế tâm tình tốt khiến cho triều thần cùng những người hầu hạ bên cạnh cũng thấy tốt hơn.

Ngày hôm đó, hoàng đế và Trịnh vương nói xong việc công cũng đúng lúc đến thời gian dùng bữa. Trịnh vương đang định đi, Ôn Uyển liền nhìn hoàng đế, cũng chuẩn bị vào bàn ăn cơm rồi, còn không giữ cậu cùng ăn. Bận rộn hơn nữa cũng không cần vội trong nhất thời này chứ?

Ôn Uyển là người giấu không được tâm tư: “Hoàng thượng, Quận chúa nói, giờ đã đến lúc dùng cơm trưa, Hoàng cung và vương phủ cách nhau đến nửa canh giờ đi đường, món ăn đã bày hết lên bàn rồi, có thể giữ Trịnh vương gia ở lại cùng dùng bữa không? Nếu cơm không đủ, nàng trở về Vĩnh Ninh cung ăn cũng được a, Vương gia bận rộn cả ngày, cũng đói bụng rồi.”

Ôn công công nghe thấy xong cúi đầu không để cho người khác thấy sắc mặt hắn, trong lòng quả thật vừa buồn cười vừa cảm khái. Quận chúa nói như vậy, dường như đang nói hoàng thượng hẹp hòi, ngay cả cơm cho nhi tử ăn một bữa cũng không có.

Hoàng đế nghe lời này, mặt lộ vẻ không vui: “Cái gì gọi là không có cơm ăn thì cháu hồi Vĩnh Ninh cung ăn. Cái nha đầu này, lá gan càng ngày càng lớn rồi! Lại dám nói trẫm như vậy.”

Ôn Uyển bỉu môi, tỏ vẻ nàng không có nói lung tung.

Trịnh vương nhìn hoàng đế và Ôn Uyển cùng nói chuyện trêu đùa, vẻ mặt rất nhu hòa.

Hoàng đế nhìn thái độ này của Ôn Uyển, vừa bực mình vừa buồn cười: “Thôi được, lão Bát con liền ở lại ăn trưa đi, nếu không cái nha đầu này sẽ nói trẫm ngay cả bữa cơm cũng không cho nhi tử của mình ăn. Truyền đi, còn không biết người bên ngoài sẽ nghĩ về trẫm thế nào đây?” Hoàng đế cũng chỉ nói đùa như thế, trong điện Dưỡng Hòa tính ra chỉ có mấy người, trừ phi muốn chết, ai lại dám đem lời hoàng đế nói truyền ra ngoài.

Trịnh vương trầm giọng đáp:”Dạ, phụ hoàng.”

Chờ lúc ăn cơm, trên bàn cơm có các món ăn đầy đủ cả sắc hương vị, lại xuất hiện bốn cái khay rất không thích hợp màu xanh biếc bày bốn món ăn, còn có một chén canh nhỏ. Hoàng đế, trước hết là uống một ít canh, ăn phần lớn là món ăn trong khay màu xanh. Những món ăn đầy đủ sắc hương vị khác thì hạ đũa rất ít, chỉ có Ôn Uyển ăn đến vui mừng.

Trịnh vương đã sớm nhìn quen cảnh tượng như vậy.

Mỗi lần Ôn Uyển và hoàng đế còn có Trịnh vương ăn cơm cùng nhau, nàng đều cười đến rất vui vẻ, lần này cũng không ngoại lệ. Hoàng đế nhìn Ôn Uyển cười đến giống như phật Di lặc, khó tránh khỏi cũng bị ảnh hưởng mà tâm tình thanh tĩnh lại, cũng là cười nhẹ nhàng, còn hỏi Trịnh vương thích ăn món gì, dặn dò chú ý thân thể, thoạt nhìn giống như một từ phụ (người cha hiền).

Trên mặt Trịnh vương càng phát ra vẻ nhu hòa.

Cơm nước xong, sau khi rửa tay, hoàng đế cười nói: “Nha đầu này, mới vừa rồi cháu cười đến giống như đứa ngốc, không biết còn tưởng rằng cháu nhặt được bảo vật gì.” Tâm tình tốt, cũng sẽ ảnh hưởng đến người bên cạnh, lúc này tâm tình Ôn Uyển vô cùng tốt khiến cả hoàng đế và Trịnh vương tâm tình cũng khá hơn không ít.

Ôn Uyển liền ôm hoàng đế làm nũng nói: “Hoàng thượng, Quận chúa nói, nàng hiện tại so với nhặt được bảo vật còn vui vẻ hơn đây! Người một nhà ở chung một chỗ ăn cơm, là chuyện vui vẻ nhất hạnh phúc nhất trên thế giới, bao nhiêu bảo vật nàng cũng không đổi.”

Hoàng đế sửng sốt. Nụ cười sáng lạn trên mặt Ôn Uyển là phát ra từ nội tâm vui sướng và khoan khoái. Hoàng đế nhớ tới tính tình Ôn Uyển, cũng chỉ khi ở trước mặt ông và lão Bát mới không chỗ nào cố kỵ rất là tùy ý, còn với những người khác, luôn khách khí xa lạ. Trong lòng nha đầu này chỉ nhận mình và lão Bát là thân nhân.

Hoàng đế yêu thương vuốt đầu Ôn Uyển, nhẹ nhàng mà nói: “Nha đầu ngốc, chính là nha đầu ngốc.”

Trịnh vương nghe lời này, cũng lộ ra nụ cười hiểu ý.

Trong lòng Ôn công công cảm thán, mặt Trịnh vương giống như băng sơn, muốn nhìn thấy hắn cười quả thật mười năm khó gặp, cũng là Quận chúa lợi hại a.

Không biết có phải bởi vì câu nói vô ý này của Ôn Uyển hay không, từ đó về sau, thời gian hoàng đế lưu Trịnh vương ở lại dùng cơm hữu ý vô ý nhiều hơn chút ít so với trước kia.

Đến tháng mười hai, quả nhiên giống như Ôn Uyển đã suy đoán, trước lễ mừng năm mới, Đại Lý Tự thực hiện rất nhiều bản án.

Xử trảm, tống giam, lưu đầy, biếm thành tội tỳ, phát mại (bán), vô tội thì thả ra, bản án đã được ấn đính khiến rất nhiều người đều được thả lỏng.

Có Ôn Uyển cầu tình lại có Phương đại nhân chu toàn khai thông, Hoa đại nhân chỉ bị đày đi đến chỗ cách ba trăm dặm, trong một quân doanh. So với người khác lưu vong ba nghìn dặm đến nơi rét mướt cực khổ bị cưỡng bức lao động đã rất may mắn. Hoa lão phu nhân, Hoa phu nhân và mấy người Hoa gia đều được phán vô tội thả ra.

Mai Nhi đã mua lại mấy thiếp thân nha hoàn vốn hầu hạ Hoa lão phu nhân và Hoa phu nhân, chờ mọi người vừa ra tới liền đưa bọn họ tới chăm sóc.

Vốn Mai Nhi muốn để cho gia quyến ở tại sản nghiệp của hồi môn của nàng, nhưng Hoa phu nhân cự tuyệt. Lúc trước bà cũng đã chuẩn bị thích đáng.

Lúc này nếu phải đến ở tại thôn trang của hồi môn của nữ nhi, thì người trong quốc công phủ sẽ nhìn con gái của bà như thế nào? Hiện giờ bà không thể trợ lực cho nữ nhi, nhưng tuyệt đối cũng không khiến nữ nhi bị lôi về phía sau.

Hoa phu nhân nhìn hai con vợ kế và di nương, giọng nói nghiêm nghị: “Sau này nếu như các ngươi đàng hoàng an phận thủ thường sống, ta cũng không phải là người không thể chứa người khác. Nếu các ngươi tiếp tục không biết điều giống lúc trước, cũng đừng trách ta lòng dạ độc ác đem các ngươi đuổi đi.” Hiện tại gia sản nằm ở trong tay của bà, hơn nữa con gái ruột của bà lại là gả đến nhà cao cửa rộng. Mấy con vợ kế cũng không phải là kẻ ngu, sau này bọn họ phải dựa vào Hoa phu nhân mới không phải chịu lạnh chịu đói, hơn nữa còn phải dựa vào muội muội mới có thể không bị khi dễ.

Những gia đình có tình cảnh giống bọn họ, bây giờ hầu như đều là lo ăn qua ngày, không nhà không cửa. Hai người trải qua chuyện này, đối với mẹ cả là nói gì nghe nấy, con lớn nhất bắt đầu học xử lý điền sản, Hoa mẫu giúp con thứ tìm một vị trí tiểu quản sự. Hai người đã bị khổ, lúc này thấy mẹ cả sớm đã có an bài, người một nhà không cần phải chịu đói chịu rét thì vui mừng vô cùng, Vưu di nương có khích bác ly gián cũng vô dụng.

Con lớn nhất đã trải qua lao ngục tai ương lần này, chỉ một chút đã trưởng thành, thấy di nương khích bác liền tức giận di nương. Trách cứ nàng tại sao ban đầu không đáp ứng làm cho hắn ghi tạc dưới danh nghĩa của mẹ cả, sinh sôi chặt đứt tiền đồ của hắn.

“Ngươi, ngươi cái này nghịch tử.” Vưu di nương giận đến hôn mê bất tỉnh.

Con lớn nhất vừa tức vừa giận, nhưng vẫn cho người đi mời đại phu, nghe đại phu nói không có đáng ngại liền bỏ đi. Vưu di nương tỉnh lại, thấy bên cạnh không có một người chiếu cố, liền bị bệnh thật.

Hoa lão phu nhân bị một cuộc kinh sợ như vậy, trở lại liền ngã bệnh, cố gắng chống đỡ để thấy mấy nhi tử, cho là sẽ không qua được, thế nhưng lại gắng gượng qua được mùa đông này không thể nói không phải là kỳ tích.

Mẫu Đan đã gả đi, hiện tại có bầu, nhưng bởi vì nhà mẹ đẻ xảy ra chuyện, nên cũng phải nhận nhiều ủy khuất, cũng may nàng còn có một muội muội là thế tử phu nhân của Trấn quốc công phủ làm chỗ dựa, nếu không cho dù có bầu, nói không chừng vẫn bị Vương gia đuổi ra khỏi cửa. Bây giờ nàng chỉ ước gì có thể cùng Mai Nhi thân cận, đáng tiếc Mai Nhi rất là chán ghét nàng, tình nghĩa cũng chỉ trên mặt.

“Quận chúa, phủ Quận chúa truyền đến tin tức, Thượng Khoan và Thanh Chiếu tiểu thư tháng giêng thành thân. Thất thiếu gia hỏi Quận chúa, người có gì muốn phân phó hay không?” Cổ ma ma hỏi. Không nên trách Cổ ma ma đã già thành tinh vẫn nhắc tới mấy chuyện không nên nhắc, chỉ vì biểu hiện bình thường của Ôn Uyển quá mức hiền hòa nhân từ. Đối với Bình gia, vẫn không biểu lộ ra tâm tư chán ghét.

Thượng Thủy đã cưới vợ vào ngày hai mươi sáu tháng chạp (26/12), người hắn cưới chính là cháu gái trong gia tộc của Tứ phu nhân; Thượng Khoan ngày mùng bốn tháng giêng cũng sẽ thành hôn, hắn cưới con gái của một thương nhân; còn Thanh Chiếu xuất giá vào ngày mười tháng giêng, gả cho con trai một thương nhân, hôn lễ do quốc công phu nhân tổ chức.

Ôn Uyển sắc mặt lạnh lẻo: “Cổ ma ma, nói với Thất thiếu gia, sau này chuyện của Bình gia chính hắn tự nhìn rồi giải quyết, không cần hỏi lại Quận chúa.”

Sau khi hôn lễ hoàn thành, Cổ ma ma lại tiến cung, báo với Ôn Uyển nói, thời điểm gả Thanh Chiếu đi, Chân Chân lấy danh nghĩa của Ôn Uyển thêm trang.

Ôn Uyển nghe cười cười.

Cổ ma ma chỉ thấy Ôn Uyển cười, không biết rốt cuộc có ý gì, hỏi lại: “Quận chúa, thất thiếu phu nhân thay Quận chúa cho Thanh Chiếu tiểu thư một đôi vòng đeo tay bằng vàng có gắn ngọc, một đôi bông tai bằng bảo thạch.”

Ôn Uyển cười một tiếng, nhìn về phía Hạ Ảnh, Hạ Ảnh hiểu ý, vào trong phòng một hồi rồi bê ra một khay bằng gỗ sơn son, Ôn Uyển cho Cố ma ma mang về.

Trở lại phủ Quận chúa, Cố ma ma thuật lại lời của Ôn Uyển với Chân Chân: “Thất thiếu phu nhân, Quận chúa nói không thể khiến người vì quận chúa mà phải tiêu pha. Đây là đồ người đã thêm trang dưới danh nghĩa quận cháu.”

Trong kha gỗ sơn son có đặt một vòng tay bện bằng sợi vàng, một đôi khuyên tai bảo thạch có những sợi tơ vàng xếp thành lớp. Mặc dù cũng giống những đồ nàng thêm trang, nhưng giá trị thì không giống nhau, Chân Chân nhận không phải mà không nhận cũng không phải, thật khó xử.

Cổ ma ma ra ám hiệu cho Lục La cho mọi người trong phòng lui ra, đến khi trong phòng không có ai, bà mới cười nói: “Thất thiếu phu nhân, Quận chúa nói chuyện lần này đã khiến thiếu phu nhân phí tâm. Mời phu nhân cứ yên tâm dưỡng thai, những chuyện khác liên quan tới Quận chúa cứ giao cho Thất thiếu gia và Đại quản gia vất vả. Quận chúa nói, nàng vẫn chờ ôm cháu đó!”

Lời này ý ngầm rất rõ ràng, làm tốt chuyện của chính mình là được, chuyện của nàng, không cần một phụ nữ có thai tới quan tâm.

Chân Chân hiểu ý tứ của Ôn Uyển, mặt có chút nhợt nhạt.
 

Bình luận

Back to Top